Để kiểm soát chu kỳ kinh nguyệt và giảm rủi ro khi tham gia sứ mệnh không gian, các nữ phi hành gia sử dụng thuốc tránh thai.
Ngày 11/7/2024, báo VnExpress đã đăng tải bài viết với tiêu đề: “Lý do nữ phi hành gia phải uống thuốc tr.ánh th.ai khi lên vũ trụ”. Nội dung cụ thể như sau:
Kể từ khi con người lần đầu tiên bước chân vào vũ trụ năm 1961, hơn 500 phi hành gia đã rời trái đất và bắt đầu cuộc hành trình khám phá không gian. Trong số đó, có 57 nữ phi hành gia, chiếm khoảng 10%. Ngày nay, khi công nghệ phát triển vượt bậc, nam giới và phụ nữ đạt được sự bình đẳng hoàn toàn trong các hoạt động khám phá vũ trụ.
Tuy nhiên, các nữ phi hành gia đối phó với một vấn đề đặc biệt, đó là k.inh ng.uyệt. Để tránh những bất tiện khác nhau khi đến kỳ, tất cả nữ phi hành gia phải uống thuốc tr.ánh th.ai trước khi bay vào vũ trụ.
Vào những năm 1960, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) đã tuyển chọn và huấn luyện một nhóm nữ phi hành gia để thực hiện các sứ mệnh không gian có người lái. Họ đều là những người ưu tú, thể hiện khả năng phi thường trong nhiều bài kiểm tra và đào tạo khác nhau. Trong số đó, 13 nữ phi hành gia bước vào giai đoạn đào tạo sau này của “Dự án Sao Thủy”. Họ có cơ hội lớn trở thành những nữ phi hành gia đầu tiên bước chân vào vũ trụ.
Dù vậy, điều này không thành sự thật. Lý do khiến NASA cuối cùng từ bỏ việc để phụ nữ tham gia chuyến bay có người lái đầu tiên vào không gian là chu kỳ k.inh ng.uyệt và các vấn đề s.inh l.ý liên quan đến môi trường phi trọng lực có thể gây ra rủi ro về an toàn cho sứ mệnh.

Trong môi trường trái đất, tuần hoàn m.áu của con người phụ thuộc vào trọng lực. Ở trạng thái không lực hút, hệ thống ti.m mạch trở nên chậm chạp. Chảy m.áu nhiều trong thời kỳ k.inh ng.uyệt, kết hợp với lưu thông m.áu kém có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe.
Các nữ phi hành gia từng phản đối, cho rằng không nên lấy vấn đề s.inh l.ý để làm cái cớ hạn chế nữ giới lên vũ trụ. Họ đồng ý thực hiện một số biện pháp can thiệp để đạt được hiệu quả làm việc tương tự các đồng nghiệp nam.
Trên thực tế, ngay từ những năm 1960, các phi hành gia Liên Xô và Mỹ bắt đầu thực hiện một số biện pháp có mục tiêu để đối phó với kỳ k.inh ng.uyệt. Ví dụ, nhiều người canh thời gian để tránh bay vào vũ trụ trong kỳ k.inh ng.uyệt hoặc sử dụng thuốc tr.ánh th.ai.
Lý do là thuốc tr.ánh th.ai có thể ức chế sự phát triển nang tr.ứng và rụng tr.ứng, từ đó ổn định nồng độ hormone, ngăn ngừa tăng sản nội mạc t.ử cu.ng. Qua đó, họ đạt được mục đích trì hoãn hoặc ức chế k.inh ng.uyệt.
Dù vậy, chỉ dùng thuốc thôi là chưa đủ. Một mặt, sử dụng thuốc lâu dài có thể gây mất cân bằng nội tiết tố và tăng nguy cơ mắc các bệnh phụ nữ. Các loại thuốc có sự khác biệt về hiệu quả, một số không thể ức chế hoặc điều hòa hoàn toàn k.inh ng.uyệt. Vì vậy, các cơ quan vũ trụ ở nhiều quốc gia đang thực hiện những đổi mới công nghệ giúp các nữ phi hành gia sống sót qua giai đoạn đặc biệt một cách an toàn, thuận tiện và thoải mái.
Một trong những phương pháp được chú ý là kích thích từ trường để điều hòa k.inh ng.uyệt. Trong đó, thiết bị chuyên dụng sẽ gửi các xung điện đến bộ phận quan trọng của não để kích thích hệ thần kinh trung ương điều khiển chu kỳ.
Công nghệ mới có ưu điểm rõ rệt so với việc chỉ dùng thuốc. Nó dễ kiểm soát và tránh được các tác dụng phụ lâu dài. Tuy nhiên, các nhà khoa học cần xác định độ an toàn của phuơng pháp trên quy mô lớn, trả lời câu hỏi liệu môi trường không gian có thể gây nhiễm điện từ cho thiết bị hay không.
Các thiết bị tr.ánh th.ai cấy ghép cũng được xem xét. Nó giải phóng hormone liều thấp liên tục, loại bỏ nhu cầu sử dụng thuốc hàng ngày. Tuy nhiên, quá trình cấy ghép cần có bác sĩ chuyên môn, phải thực hiện trong môi trường vô trùng, điều này khó khăn trong điều kiện không gian. Cấy ghép cũng để lại rủi ro như nhiễm trùng và đào thải.

Ngoài ra, công nghệ t.ử cu.ng nhân tạo nuôi phôi trong môi trường không gian cũng nhận được nhiều sự chú ý. Điều này có thể bảo vệ khả năng sinh sản của các nữ phi hành gia. Tuy nhiên, do bị hạn chế bởi điều kiện kỹ thuật hiện tại, phương pháp này đứng trước những vấn đề đạo đức.
Không khó để nhận ra, dù các công nghệ mới mang lại hy vọng, song chúng cũng tiểm ẩn rủi ro. Ức chế bằng thuốc tr.ánh th.ai vẫn là phương án tương đối khả thi trong điều kiện hiện tại.
Một số nữ phi hành gia cấp cao cho rằng rối loạn chu kỳ k.inh ng.uyệt là một trong những vấn đề khó thích ứng nhất. Theo các số liệu thống kế, hầu hết họ gặp bất thường về chu kỳ trong khoảng thời gian ngoài vũ trụ. Đôi khi, k.inh ng.uyệt đến sớm hoặc muộn khoảng vài tuần, lượng m.áu tiết ra quá ít hoặc quá nhiều.
Điều này trực tiếp dẫn đến thay đổi tâm trạng, tăng cảm giác lo lắng và mệt mỏi. Nếu không được điều trị kịp thời, nó có thể gây ra những rủi ro về sức khỏe như thiếu m.áu, nhiễm trùng.
Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học từ nhiều quốc gia đã cố gắng cải tiến thiết kế bên trong tàu vũ trụ. Họ bổ sung phòng tắm chuyên dụng và trang bị thiết bị vệ sinh đa chức năng. Vật liệu cách âm được lắp đặt trong cabin ngủ giúp nữ phi hành gia có thêm không gian riêng tư để chăm sóc bản thân. Những biện pháp này có thể giúp họ giải quyết các vấn đề s.inh l.ý khác nhau một cách thoải mái.
Ngoài ra, việc cung cấp thực đơn giàu dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất theo giai đoạn khác nhau trong chu kỳ k.inh ng.uyệt của các nữ phi hành gia cũng rất quan trọng. Điều này có thể giúp ổn định nồng độ hormone và giảm các triệu chứng khác nhau.
Các nữ phi hành gia cũng được khám sức khỏe định kỳ, theo dõi sự thay đổi các chỉ số s.inh l.ý quan trọng, sử dụng thuốc hoặc các biện pháp can thiệp y tế kịp thời.
Ngày 9/7/2024, Tạp chí Người đưa tin đã đăng tải bài viết với tiêu đề: “Vì sao nữ phi hành gia phải uống thuốc tr.ánh th.ai khi ra ngoài không gian? Chính xác thì điều gì sẽ xảy ra trong con tàu vũ trụ?”. Nội dung cụ thể như sau:

Kể từ khi con người lần đầu tiên bước vào vũ trụ vào năm 1961, hơn 500 phi hành gia đã rời trái đất và bắt đầu cuộc hành trình chinh phục vũ trụ. Trong số đó có ít nhất 57 nữ phi hành gia, chiếm khoảng 10% tổng số phi hành gia được thực hiện sứ mệnh thiêng liêng này.
Ngày nay, với công nghệ phát triển cao, nam giới và phụ nữ đã đạt được sự bình đẳng trong các hoạt động không gian khác nhau. Tuy nhiên, các nữ phi hành gia vẫn phải đối mặt với một vấn đề đặc biệt về sức khỏe khi bay vào vũ trụ.
Vấn đề s.inh l.ý gây rắc rối cho nữ phi hành gia
Vào những năm 1960, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) đã lựa chọn và huấn luyện một nhóm nữ phi hành gia khi thực hiện các sứ mệnh có người lái. Những người phụ nữ này đều là những người ưu tú được chọn tham gia chương trình. Họ đã thể hiện khả năng phi thường trong nhiều bài kiểm tra và đào tạo khác nhau, chứng tỏ rằng họ hoàn toàn có đủ khả năng trở thành phi hành gia xuất sắc.

Trong số đó, 13 nữ phi hành gia đã bước vào giai đoạn tuyển chọn cuối cùng của “Dự án Sao Thủy” sau nhiều cuộc tuyển chọn gian khổ. Họ có cơ hội lớn trở thành những nữ phi hành gia đầu tiên bước vào vũ trụ. Nhưng đáng tiếc, vào giây phút tuyển chọn cuối cùng, những người phụ nữ này đều phải nhường suất cho nam phi hành gia.
Một lý do quan trọng khiến NASA cuối cùng đã từ bỏ việc để phụ nữ hoàn thành chuyến bay vào vũ trụ là do nghiên cứu khoa học phát hiện ra rằng chu kỳ k.inh ng.uyệt của phụ nữ và các vấn đề s.inh l.ý liên quan trong môi trường vi trọng lực có thể gây ra rủi ro về an toàn sức khỏe cho chính họ.
Trong môi trường trái đất, sự tuần hoàn m.áu của con người phụ thuộc vào trọng lực. Nhưng ở trạng thái không trọng lực, hệ thống ti.m mạch trở nên chậm chạp. Việc phụ nữ bị chảy m.áu nhiều trong thời kỳ k.inh ng.uyệt, kết hợp với lưu thông m.áu kém trong môi trường vi trọng lực có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe.
Theo số liệu thống kê, hầu hết các nữ phi hành gia sẽ gặp phải những bất thường rõ ràng về chu kỳ k.inh ng.uyệt trong thời gian ở trong không gian. Điều này trực tiếp dẫn đến sự thay đổi tâm trạng, tăng sự lo lắng và mệt mỏi. Nếu không được điều trị kịp thời còn có thể gây ra những nguy cơ về sức khỏe như thiếu m.áu, nhiễm trùng.
Sau quyết định này, các nữ phi hành gia đã cùng nhau phản đối rằng việc dựa vào các vấn đề sức khỏe của phụ nữ không thể là cái cớ để hạn chế họ lên vũ trụ. Phụ nữ vẫn có thể sử dụng một số biện pháp can thiệp để đạt được hiệu quả tương tự như các phi hành gia nam.
Những người phụ nữ sẵn sàng thay đổi nhịp sinh học để thực hiện sứ mệnh
Trên thực tế, ngay từ những năm 1960, các phi hành gia Liên Xô và Mỹ đã bắt đầu thực hiện một số biện pháp để đối phó với vấn đề này. Ví dụ, thời gian thực hiện nhiệm vụ của nữ phi hành gia được sắp xếp hợp lý để tránh thời kỳ s.inh l.ý và họ được cung cấp các sản phẩm vệ sinh được thiết kế đặc biệt. Chỉ cần có sự chuẩn bị và hỗ trợ đầy đủ về mọi mặt, các nữ phi hành gia hoàn toàn có thể thể hiện tài năng của mình trong các sứ mệnh không gian.
Trong môi trường không gian, m.áu không thể thoát ra ngoài tự nhiên, điều này ảnh hưởng tới trạng thái làm việc của các nữ phi hành gia. Để đảm bảo nhiệm vụ diễn ra suôn sẻ, nhiều nữ phi hành gia đã lựa chọn uống thuốc tr.ánh th.ai để ức chế k.inh ng.uyệt trước khi cất cánh. Thuốc tr.ánh th.ai có thể ức chế sự phát triển nang tr.ứng và rụng tr.ứng, từ đó ổn định nồng độ hormone và ngăn ngừa tăng sản nội mạc t.ử cu.ng, qua đó đạt được mục đích trì hoãn hoặc ức chế k.inh ng.uyệt.

Bất chấp nguy cơ tác dụng phụ, việc ức chế bằng thuốc vẫn khả thi trong điều kiện hiện tại so với các lựa chọn khác. Trong những năm qua, không ít nữ phi hành gia đã sẵn sàng hy sinh để có thể theo đuổi đam mê chinh phục không gian của mình.
Những biện pháp khoa học sáng tạo
Tất nhiên, chỉ dùng thuốc thôi là chưa đủ. Bên cạnh đó, việc sử dụng biện pháp này lâu dài cũng có thể gây mất cân bằng nội tiết tố và tăng nguy cơ mắc bệnh cho các nữ phi hành gia. Vì vậy, các cơ quan vũ trụ ở nhiều quốc gia đang thực hiện những đổi mới công nghệ về nhiều mặt nhằm giúp các nữ phi hành gia sống sót qua giai đoạn đặc biệt một cách an toàn, thuận tiện và thoải mái hơn.

Biện pháp đối phó chủ đạo hiện nay là phát triển thêm nhiều công nghệ mới có thể thay thế thuốc, chẳng hạn như kích thích từ trường để điều hòa chu kỳ k.inh ng.uyệt. Công nghệ này có thể điều hòa k.inh ng.uyệt bằng cách gửi các xung từ đến các bộ phận quan trọng của não để kích thích hệ thần kinh trung ương của chu kỳ k.inh ng.uyệt. Công nghệ mới có những ưu điểm rõ ràng so với việc chỉ dựa vào thuốc. Nó có thể được kiểm soát chính xác khi cần thiết và tránh được tác dụng phụ của việc phụ thuộc vào thuốc lâu dài. Tuy nhiên, độ an toàn của nó cần phải được xác minh trên quy mô lớn và liệu môi trường không gian có gây nhiễu điện từ cho thiết bị hay không cũng phải được xem xét.
Các thiết bị tr.ánh th.ai cấy ghép cũng đang được xem xét. Nó giải phóng hormone liều thấp liên tục, loại bỏ nhu cầu sử dụng thuốc hàng ngày. Tuy nhiên, quá trình cấy ghép đòi hỏi các bác sĩ chuyên môn phải hoàn thành trong môi trường vô trùng mà điều này khó khăn trong điều kiện không gian. Cấy ghép cũng mang lại những rủi ro như nhiễm trùng và đào thải.